35 năm nhạc
Từ Công Phụng

 

Giới thiệu tập truyện "Dì Thu" của Trang Châu

Kính thưa quý vị,
Thưa các bạn,

Trang Châu đến với chữ nghĩa bằng một cuốn ký, cuốn Y Sĩ Tiền Tuyến, do nhà Đường Sáng xuất bản năm 1970. Cuốn ký đầu tay này đã trúng lớn. Được giải nhất Bút Ký Chiến Đấu năm 1967 và Giải Nhất Văn Học nghệ Thuật Toàn Quốc, bộ môn Văn, năm 1969. Tưởng với đà này, những cuốn ký khác sẽ ra đời. Nhưng không, Trang Châu đã khựng lại. Anh quay ra làm thơ.

Thơ Trang Châu hầu như rặt một thứ thơ tình. Có những câu rất đắt.

Mình hãy coi nhau đêm nay
Như tình nhân
Hãy coi tuổi nhau
Như vừa đôi tám
Hãy gợi lòng mình
Như vừa biết yêu đương

Anh cho xuất bản được một tập thơ, tập Thơ Trang Châu, vào năm 1989, gần 20 năm sau cuốn ký. Tưởng anh đã nằm yên với thơ, rỉ rả vào tai chúng ta những lời tình tự ngọt ngào êm ả. Nhưng không, anh lại cựa mình. Thơ cũng như ký, không giữ được bước chân của anh. Anh quay qua viết truyện và ngày hôm nay, 11 năm sau cuốn thơ, chúng ta có Dì Thu.

Như vậy, Trang Châu là một người đa tài. Cái đa tài làm tôi bối rối. Người viết ký, nhà thơ, nhà văn, biết gọi anh ra sao? Nhưng hôm nay, đón nhận cuốn truyện đầu tay của anh, chúng ta vui mừng bắt tay nhà văn Trang Châu.

Dì Thu có thể được coi là một cuốn truyện tình vì trong 12 truyện thì có đến 11 truyện tình. Nhưng đừng tìm những mối tình thơ mộng trong truyện của Trang Châu. Không có chàng và nàng, không có trăng sao, không có những ấm êm hạnh phúc. Truyện tình của Trang Châu là những mối tình không thường, không trơn tru. Chỉ có những dằn vặt, đau thương, chia lìa, bất hạnh.

Hình như bao nhiêu ngọt ngào, tình tứ, thơ mộng, Trang Châu đã xài hết trong thơ nên khi đổi tay viết truyện, anh chỉ còn những đắng cay, chua chát. Truyện của anh là những bức tranh xám của những cuộc đời nhiều trớ trêu, lắm sống sượng. Như cuộc đời của nhân vật nữ trong truyện Trang Châu dùng làm tên cho cả tập truyện: Dì Thu. Dì Thu là con người bị cuốn hút trong cuộc sống của xã hội miền Nam đang lột xác thời quân đội Đồng Minh qua tham chiến. Dì bỏ anh chồng chẳng ra gì. Mở bar, dì trở thành người đàn bà của mọi người. Gặp lại con của người bạn cũ nay đã trở thành một sinh viên y khoa, dì đã dìu cháu từng bước đi vào cuộc vui vầy thân xác.

Những nhân vật nữ trong truyện của Trang Châu không e ấp, không dùng dằng, họ xông thẳng vào tình trường với lòng tự tin vững chắc. Trong truyện Người Xưa, người vợ có anh chồng bị ung thư nhiếp hộ tuyến, tìm lại vòng tay của người bạn trai cũ trước con mắt bất lực của người chồng. Trong truyện Khi Chiều Xuống, người đàn bà lấy chồng, một ông chồng giàu. Rồi chồng cũng bị ung thư nhiếp hộ tuyến, lại không dùng được thuốc Viagra vì kỵ thuốc. Người vợ cũng chủ động tìm vui thú với người bạn trai cũ.

Những người đàn bà rất người, rất buông thả, rất tha thiết với thú vui của cuộc sống đầy rảy trong truyện của Trang Châu. Họ ý thức rất rõ ràng những gì họ làm. Như nhân vật nữ trong truyện Thuê Tình, đã tới phòng mạch bác sĩ, bày tỏ ý muốn có con, nhưng từ chối việc thụ thai nhân tạo. Bà thẳng thắn đề nghị ăn nằm với bác sĩ để lấy giống trực tiếp. Hay trong truyện Người Mang Mùa Xuân, người đàn bà ly dị chồng, ở với con gái trong tuổi mới lớn, có phòng cho thuê mà chỉ chọn người thuê là sinh viên độc thân. Bà đã vui vầy thân xác với anh sinh viên, nhưng cô con gái, cũng yêu "chú" sinh viên một cách thơ ngây, trút hết tâm sự trong những trang nhật ký. Khi khám phá ra sự thân mật của chú sinh viên và mẹ, cô đau khổ nhưng vì thương chú, thương mẹ, nên tự nén lòng nhường chú cho mẹ, chờ tới khi mẹ già thì sẽ lấy chú!

Người đàn bà trong truyện của Trang Châu còn là những người đàn bà bị ám ảnh bởi số phận nghiệt ngã. Trong truyện Bên Bờ Hạnh Phúc, nhân vật nữ tự thấy mình là người mang tới tai họa cho người mình yêu. Hai người lính yêu nàng, tính tới chuyện trăm năm, đều bị chết ngoài mặt trận. Tới người yêu thứ ba, nàng sợ không dám tiến tới, sợ sẽ một lần nữa đưa người yêu ra lãnh đạn ngoài mặt trận. Nàng giải quyết nỗi ám ảnh này theo cách của nàng, thách đố với số phận, thách đố với dư luận, cứ ăn ở với người yêu nhưng chuyện hôn nhân đợi tới khi hòa bình, khi những viên đạn chẳng còn tìm kiếm người tình của nàng. Hãy lắng nghe lời nói cam chịu, buồn tủi của nàng Nhung này: "Với anh, em sẽ không đi từ điểm khởi hành: từ điểm khởi hành em đã mất anh lần đầu, đã mất Minh, đã làm mất Sơn. Với anh, lần này, em sẽ từ mức đến ngược trở lại điểm khởi hành: anh sẽ không cần hỏi cưới em; anh sẽ đến như một người đàn ông cần một người đàn bà; anh đến không hứa hẹn, có thể đi không ràng buộc. Em sẽ là đàn bà nhưng sẽ chưa là vợ, là mẹ. Chỉ có thế mới cầm chân được chiến tranh đang chen lấn từng hơi thở hạnh phúc. Ngày hòa bình trở lại là lúc chúng ta cán mức khởi hành. Khi thân xác anh không còn là mục tiêu của bom đạn, chúng ta bắt đầu cuộc khởi hành xuôi. "

Hai người đàn bà trong truyện Bên Đường, hai mẹ con, không có được những lý luận về sự nghiệt ngã của cuộc sống như vậy. Họ cam chịu sự nghiệt ngã, vì họ là những người dân quê sống trong vùng xôi đậu. Họ chịu đựng bom đạn, họ chịu đựng hãi hùng và họ chịu đựng những quyền lực giáng xuống đời họ, từ những người lính bên này cũng như bên kia chiến tuyến. Người mẹ thản nhiên ăn nằm khi với du kích, khi với lính, tùy theo sáng tối, tùy theo ngày đêm, tùy theo những sấm chớp oằn trên vai bà. Cô con gái cũng vậy. Từng chịu đựng những người từ trên rừng xuống cũng như từng chịu đựng những người từ đồng bằng lên. Nhưng lần này, với Tiến, viên Chuẩn Úy chỉ huy đoàn quân đóng trong làng, nàng tự tiến tới. Đêm xuống, nàng đi qua chỗ ngủ của Tiến, quệt tay, quệt chân, ban ngày tỏ tình bằng trái dừa, trái mãng cầu lén để cạnh ba lô của anh sĩ quan. Tình chín thì nàng chui vào mùng của viên Chuẩn Úy. Khi đoàn quân di chuyển, nàng hớt hải chạy ra nhìn đoàn xe gầm rú chuyển quân. " Mặt ông Chuẩn Úy xa dần, khuất hẳn sau lớp bụi vàng, Liên nghe cay ở mắt. Nàng đưa tay lên dụi mới hay hai mắt mình đẫm ướt. Liên không rõ mình khóc hay bụi làm cay mắt thật. "

Truyện của Trang Châu đưa tới những tình huống căng thẳng, mệt tim, mệt óc. Nhưng anh tinh ranh dừng lại ở đó, treo người đọc lên nỗi phập phồng. Anh dẫn độc giả tới một cánh cửa đóng và anh không mang theo chìa khóa. Người đọc đành đứng xớ rớ ở bên này cánh cửa, không cách gì ghé mắt được qua lần cửa khóa đó. Thường ở cuối truyện, tác giả trở nên ít nói lạ thường.

Như trong truyện Người Xưa, anh chỉ viết: " Thế thì hôn em đi, xong đưa em về khách sạn."

Trong truyện Bên Bờ Hạnh Phúc, tác giả kết thúc: "Xin anh đóng hộ cánh cửa, rồi vào trong này với em."

Trong truyện Khi Chiều Xuống: "Em muốn đi uống cà phê với anh chiều nay. Nhưng chỉ uống cà phê thôi nhé anh! Đừng có...gì khác, nếu không em sẽ không đủ can đảm trở về. "

Có lần, trong một cuộc phỏng vấn, Trang Châu đã phát biểu: " Giàu tình cảm nhưng tôi nghèo tưởng tượng. Muốn nói, muốn viết, tôi phải sống... " Đây có phải là câu trả lời cho sự ít nói của anh không?

Nhưng không phải lúc nào Trang Châu cũng ấp úng như vậy. Rải rác trong truyện của anh, Trang Châu thường tả rất chi tiết, rất kỹ. Tôi xin dẫn vài thí dụ.

" Tôi bơi vào bờ, leo lên bến đá, lấy khăn vò tóc, lau khô mình, để nguyên quần tắm, xỏ chân vào đôi dép nhật, vắt khăn lên vai rồi thủng thỉnh bước theo Bích. " ( Dì Thu, tr. 21)

" Tôi ra sau hè đứng tần ngần quan sát cái phòng tắm lộ thiên. Lu nước màu gạch nung cao chừng một thước, cái gáo bằng vỏ dừa khô có cán dài, gác ngang trên miệng lu. Chỗ đứng được lót bằng bốn viên gạch bông. Một rãnh nhỏ dẫn nước tắm chảy ra cái mương đào dọc theo bờ tường. " (Dì Thu, tr.37).

" Khám xong năm người bệnh, Trung cởi áo choàng, mặc vội chiếc veston, nắn lại nút cà vạt, rời phòng khám bệnh. " ( Thuê Tình, tr. 118).

Với cách tả kỹ lưỡng, với những con số chính xác ( cao 1 thước, 4 viên gạch bông, 5 người bệnh ), tôi nghĩ Trang Châu viết truyện nhưng vẫn còn ngoái đầu lại với ký, mối tình đầu của anh với chữ nghĩa.

Đọc truyện Trang Châu, người ta sẽ dễ dàng cảm thấy truyện rất thật, rất cuộc đời, như là một phiên bản thật thà của cuộc sống quanh ta. Chúng có cái hấp lực riêng níu kéo người đọc. Tôi vẫn cho là một truyện thành công phải giữ được người đọc tới dòng chữ cuối, và khi đọc xong, truyện vẫn còn vương vấn trong trí người đọc, không dễ gì mà rời xa, không dễ gì mà xếp lại.

Nhân vật của Trang Châu là những người không dễ gì chúng ta quên được. Họ không có cuộc đời bình thường của những người đàn bà bình thường. Họ thua thiệt trong cuộc sống. Đời họ là những ngang trái, éo le, nghiệt ngã. Một gia đình hạnh phúc, một cuộc sống an lành, một cõi lòng yên ổn là những thứ xa lạ với họ.

Theo như một thứ trật tự được số đông người đồng tình, cuộc sống được thu xếp sao để có được một khung cảnh bình thường. Cái mà người ta thường cho là hạnh phúc. Nó là một con đường phẳng phiu, thẳng tắp mà các nhà đạo đức rất ưa thích. Lạc ra khỏi con đường này là gánh lấy cái nhíu mày của các nhà đạo đức, cái bĩu môi của dư luận, cái lừ mắt của những người xung quanh.

Nhân vật của Trang Châu là những con người chắc chắn không vừa mắt các nhà đạo đức. Họ đã lạc ra khỏi con đường thẳng, vất vưởng cất bước trên những con đường quanh co, gập ghềnh. Trang Châu là một nhà văn. Anh không có con mắt nghiêm nghị của các nhà đạo đức. Anh bao dung với những con người tạo ra bộ mặt đa dạng của xã hội. Cuộc sống vốn đa dạng. Có chẵn có lẻ, có bên phải có bên trái. Chúng ta quen lái xe bên phía tay phải, nhưng có nhiều nơi trên thế giới này, người ta quen lái xe phía bên trái. Đường nào cũng là đường.

Trong suốt tập truyện, người ta không bắt gặp những dè bỉu, những chỉ trích, những phê phán, những chê trách. Chỉ có một giọng văn đày tình người, giọng văn cảm thông của một ngòi bút trân quí cuộc sống, cuộc sống với những an vui, hạnh phúc, cũng như những nhọc nhằn, nghiệt ngã, bất an, hụt hẫng. Trang Châu, vì vậy, là một người viết nhân bản. Anh chấp nhận cuộc sống như nó là.

Như một người sống với chữ nghĩa, Trang Châu đã đi một đoạn đường dài trên ba chục năm. Vẫn có lòng với chữ nghĩa, vẫn miệt mài với văn chương, vẫn thân tình với ngòi viết, Trang Châu chắc sẽ còn nhiều cống hiến cho văn học Việt Nam. Anh làm thơ, anh viết ký, anh viết truyện, hay anh sẽ còn nhào vào các thể loại khác, tấm lòng của anh với chữ nghĩa lúc nào cũng đáng quí.

Mong rằng anh vẫn ở với chữ nghĩa trong lúc mà chữ nghĩa Việt Nam chúng ta hình như đang mỏi mòn, còm cõi ở hải ngoại. Chung tình với chữ nghĩa là điều tôi tin Trang Châu sẽ giữ được. Vì anh đã từng viết:

Tôi thuộc loại lang
Treo bằng cấp dưới đất
Ấp ủ thơ trong lòng.

Xin cám ơn quí vị và các bạn.

Song Thao